Nước Đức “thoát Nga” như thế nào?

Kiều Thị An Giang 

Cuộc chiến Ukraine chưa kết thúc. Nhưng nước Đức đã thay đổi mãi mãi. Họ không còn tin vào ảo tưởng thương mại sẽ cứu rỗi độc tài. Không còn tin vào một “Nước Nga khác”.

“Những ai không nhớ về quá khứ sẽ bị lên án phải lặp lại nó”. – George Santayana

Hậu Merkel và tro tàn của nước Nga 

Khi Merkel chuẩn bị rời võ đài chính trị, nước Đức đã rất lo ngại cho thời kỳ “hậu Merkel”. Không phải chỉ vì cái bóng quá lớn của người đàn bà quyền lực nhất thế giới che mờ đi tất cả, mà còn vì câu hỏi đau đáu: tiếp tục nó như thế nào? 

Nhưng cho dù đã tiên lượng từ rất xa, giới tinh hoa chính trị Đức cũng không thể ngờ, cái gọi là “hậu Merkel” không phải là một sự tiếp quản, mà là một sự tháo dỡ và sửa chữa đau đớn nhất trong lịch sử hậu chiến. Mà cơn địa chấn mở ra cuộc tàn phá đó, không ai khác, chính là Vladimir Putin.

Ngày 24/2/2022, lục địa già thức dậy trước một bình minh rách toạc: Putin mang xe tăng thọc thẳng vào Ukraine – người láng giềng anh em. Trong một đêm, gần 80 năm hòa bình và thịnh vượng của châu Âu tan như bọt nước.

Đối với nước Đức, đó không chỉ là một cú sốc đạo lý. Đó là sự đổ vỡ tận gốc rễ của học thuyết mà nước Đức hậu chiến tranh lạnh đã dốc lòng tin tưởng: “Wandel durch Handel” – thay đổi thông qua thương mại.

Và không ai hiện thân cho học thuyết đó nhiều hơn Angela Merkel.

Trong suốt 16 năm cầm quyền, Merkel theo đuổi chính sách cân bằng giữa đạo lý phương Tây và hiện thực địa chính trị. Là một người từng lớn lên ở Đông Đức, Merkel hiểu Putin – người xuất thân từ KGB – hơn bất kỳ lãnh đạo phương Tây nào. 

Bà từng nói: “Putin không sợ phương Tây. Ông ta sợ sự lây lan của dân chủ sang nước Nga” (“Putin hat keine Angst vor dem Westen. Er hat Angst vor der Ausbreitung von Demokratie in Russland”).

Với trực giác đó, Merkel không chọn đối đầu mà chọn đối thoại. Không bằng sức mạnh quân sự, mà bằng những hợp đồng khí đốt, đầu tư, đối thoại song phương và kênh hậu trường.

Bà tin (như nhiều người Đức ngây thơ tin), rằng nếu gắn Nga chặt chẽ vào nền kinh tế phương Tây, thì sẽ “thay đổi nó từ bên trong”, kể cả ý thức hệ: “Chúng tôi tin vào sự gắn kết kinh tế như một hàng rào chống xung đột”.

“Wir glaubten an wirtschaftliche Verflechtung als Schutz vor Konflikten”.

Đó không phải là sự ngây thơ. Mà là một kiểu lý trí lịch thiệp, duy lý, rất “Đức”. (So Deutsch)

Chỉ tiếc rằng, khi xe tăng Nga tiến vào Kyiv, cả một hệ thống lý trí ấy đổ sụp.

Schröder: Cái bóng của sự lệ thuộc

Nhưng nếu Merkel là kiến trúc sư vững vàng của một chính sách đã lỗi thời, thì Gerhard Schröder – người tiền nhiệm của bà – lại là cái bóng gây tranh cãi nhất trong mối bang giao Berlin – Moscow.

Sau khi rời ghế Thủ tướng, Schröder đầu quân cho Gazprom, Rosneft và là kiến trúc sư của đường ống Nord Stream 1. Ông từng mô tả Putin là “một người bạn”, và công khai chỉ trích phương Tây khi chiến tranh Ukraine nổ ra.

Người Đức không còn dùng chữ “cựu Thủ tướng Schröder” mà gọi thẳng là: “người vận động hành lang cho Kremlin”.

Chính Schröder đã gieo mầm lệ thuộc năng lượng của Đức vào Nga. Và Merkel, dù tỉnh táo hơn, vẫn không dừng lại khi Nord Stream 2 tiếp tục được khởi công.

Olaf Scholz và khoảnh khắc bước ngoặt

Vào ngày 27/2/2022 – chỉ ba ngày sau khi chiến tranh nổ ra – Thủ tướng đương nhiệm Olaf Scholz đứng trước Quốc hội và tuyên bố một cụm từ sẽ đi vào lịch sử: Zeitenwende – bước ngoặt thời đại – Đức sẽ cấp 100 tỷ euro cho quân đội – điều chưa từng có từ sau Thế chiến II. Đức chấm dứt Nord Stream 2, ngừng mua khí đốt Nga, và quay sang Ba Lan, Na Uy, Qatar, Mỹ…

Một nước Đức từng bị coi là “thiếu vai trò” trong chính trị quốc tế, giờ trở thành nhà tài trợ vũ khí lớn thứ hai cho Ukraine. Berlin cung cấp Patriot, Leopard, pháo tự hành, và các hệ thống radar hiện đại.

Người ta nói Đức hành động chậm. Nhưng một khi nước Đức hành động, thì đó là một chuyển động khổng lồ  của một cỗ xe tăng – Đã nghiền, là nát. Và lì lợm đến tận phút cuối cùng.

Hồi ký Merkel: lời xin lỗi không bao giờ đến

Trong cuốn hồi ký phát hành năm 2024, Merkel không xin lỗi. Bà không thừa nhận “sai lầm” – nhưng thừa nhận một thứ còn nặng nề hơn: “Tôi không có ảo tưởng về Putin. Nhưng tôi không thể ngăn chặn điều đã xảy ra” (“Ich hatte keine Illusionen über Putin. Aber ich konnte nicht verhindern, was geschehen ist.”).

“Tôi hiểu Putin không vì tôi yếu đuối – mà vì tôi phải tìm cách bảo vệ nước Đức không phải đi vào chiến tranh”.

Ngoài cuốn hồi ký đạt doanh số cao tại 30 quốc gia phát hành, cựu TT Merkel tiếp tục làm dậy sóng truyền thông khi trả lời phỏng vấn: “Hiểu những gì Putin đang làm bằng cách đặt mình vào vị trí của ông ấy là điều không sai… Không có lời biện minh nào cho việc ông ấy xâm chiếm một quốc gia khác. Nhưng những cuộc thảo luận về lợi ích của Nga nên được cho phép”. (“Es ist nicht falsch, Putins Handeln aus seiner Perspektive zu verstehen… Es gibt keine Rechtfertigung für den Überfall auf ein anderes Land. Aber Diskussionen über russische Interessen sollten erlaubt sein.”).

Merkel không ngây thơ. Nhưng nước Đức của bà đã tin vào một giấc mơ thời hậu chiến – và phải tỉnh dậy trong ác mộng hậu Putin. Dẫu lịch sử còn tranh cãi dài dài về công hay tội của những quyết sách lịch sử, bà vẫn phải chịu trách nhiệm về việc để cho nước Đức phụ thuộc quá sâu và quá lâu vào Putin.

Ngoài ra, việc bà từ chối đơn xin gia nhập NATO của Ukraina vào năm 2008, cũng là một vết hằn của lịch sử. Chiều lòng Putin để tránh xảy ra đối đầu dưới triều đại của bà – không có nghĩa là giúp hắn từ bỏ ác mộng thôn tính các quốc gia khác. Bà tránh được lửa, nhưng hậu duệ của bà phải dập đi cả đám cháy.

Merz- kiến trúc sư từ đống tro tàn

Từng thua Merkel đúng 20 năm trước, Friedrich Merz nhậm chức vào tháng 5-2025. Chiến tranh Ukraina do người anh em Putin gây ra đã được ba năm với sự quay xe đầy chủ ý của Mỹ. Một nước Đức chia rẽ sâu sắc về chính trị, và nền kinh tế gần như không tăng trưởng kể từ đại dịch Covid. 

Merz đã lao vào công cuộc sửa chữa sai lầm của các người tiền nhiệm. Với nền kinh tế trì trệ và xã hội chia rẽ sâu sắc, Merz đã bước vào cuộc chiến không chỉ chống lại thế lực bên ngoài, mà còn để chữa lành nước Đức từ bên trong.

Với kinh nghiệm quý báu cả trong ba lĩnh vực là luật, kinh doanh và chính trị, ông được coi là nhân vật bảo thủ, cứng rắn và quyết đoán. Một tố chất rất cần thiết để lèo lái nước Đức cùng lúc ra khỏi ba cuộc khủng hoảng: an ninh, kinh tế, và niềm tin. Trong đó nặng nề nhất là tài trợ cho cuộc chiến Ukraina giữa bối cảnh Mỹ gần như đã ngoảnh mặt và Trump thì giúp Nga câu giờ.

Với phương châm: “Không có sự thịnh vượng nào mà không có công lý. Và không có công lý nào mà không có sự thịnh vượng”, Merz dù là nhân vật gây tranh cãi trong nội bộ nước Đức, vẫn đang lèo lái nền kinh tế lớn nhất châu Âu ra khỏi vực xoáy của những tàn dư thân Nga mà nước Đức từng theo đuổi. Ông sẽ làm được những gì, người dân có tin tưởng để tiếp tục trao cho ông nhiệm kỳ 4 – nhiệm kỳ 16 năm như đã từng làm với bà Merkel? Điều đó phụ thuộc vào chính sự mạnh mẽ của ông hôm nay, trong từng viên đạn, mỗi chiếc xe tăng hay pháo tự hành… vận chuyển qua biên giới. Đó không chỉ là những con số. Mà là những đồng thuế của người lao động, là quỹ phúc lợi bị xà xẻo, đồng lương bị thu hẹp… Đó chính là niềm tin của hơn 80 triệu người vào cuộc chiến ở cách xa hàng ngàn cây số. Tất cả gánh nặng lương tâm và trách nhiệm đó đặt lên vai ông.

Cuộc chiến Ukraine chưa kết thúc. Nhưng nước Đức đã thay đổi mãi mãi. Họ không còn tin vào ảo tưởng thương mại sẽ cứu rỗi độc tài. Không còn tin vào một “Nước Nga khác”.

Người Đức hôm nay hiểu rằng tự do, dân chủ phải được bảo vệ không chỉ bằng lời nói – mà bằng vũ khí, bằng tiền, bằng sức mạnh chính trị.

Putin không chỉ phá tan hòa bình châu Âu. Ông ta đã đốt sạch niềm tin cuối cùng mà Berlin dành cho Moscow.

Mãi mãi.

K.T.A.G.

Nguồn: FB Kiều Thị An Giang

Related posts